• Những ngày tháng dấu yêu (Anh Thụy)

    Những ngày tháng 9/1996, chỉ vài tháng sau ngày mẹ mất, ba tôi khăn gói quả mướp, bắt chuyến xe đò Bến Tre - Thành phố Hồ Chí Minh, dắt tay tôi băng qua từng con phố đông nghẹt người và xe, đưa tôi đến trước cổng trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ngôi trường trong mơ của những đứa sinh viên tỉnh lẻ như tôi lúc bấy giờ và cả những kẻ say mê văn chương như người tình. Tôi nhớ cảm giác của mình lúc đó, cứ đứng ngơ ngác ngước nhìn cổng trường, rồi sân trường, từng dãy phòng học, nơi đó từng lớp sinh viên phơi phới hồn nhiên, chưa dính chút lấm lem bụi đời, tất thảy đều thong dong thả bước, thả hồn theo từng lọn gió vờn quanh những chiếc ghế đá được đặt khắp trong sân trường, mà chính sau này, những chiếc ghế đá đó đã gắn bó cùng tôi trong suốt những năm đại học, lúc vui cũng như lúc buồn, lúc mệt mỏi cũng như lúc hân hoan ăn mừng một học kỳ, một “tín chỉ” vừa kết thúc.

    Tôi nhớ như in, cái ngày nhập học, “xui rủi” cho lứa sinh viên năm đầu tiên thử nghiệm chương trình học đại cương, phải hoàn thành các tín chỉ theo học kỳ, tôi và các sinh viên khác cứ nháo nhác dồn chung vào một giảng đường và bắt đầu học theo giáo trình đại cương, với một mớ kiến thức tổng hợp. Sau một năm rưỡi đại cương, bọn tôi lại nháo nhác chia tay nhau mỗi đứa một con đường, một hướng đi. Có bạn về Sư phạm, tôi chọn ở lại với Khoa Ngữ văn – Báo chí của trường, vì một lẽ tôi yêu văn chương như máu thịt đang chảy trong người mình, với khao khát được khám phá từ những giấc mơ thời bé xíu, nơi đó tôi mới có thể biết đến “Văn hóa Phương Đông, Văn hóa Phương Tây, cảm thụ sâu hơn về các giai đoạn Văn học Cách mạng Việt Nam….”, dù khi va đập vào thực tế, những vốn kiến thức đó, có thể sẽ không tạo ra cơm gạo nuôi sống được mình nhưng chính trong tiềm thức, nó là cái phao giúp tôi đứng vững, trụ lại trong đời bằng một tâm hồn trong sáng, nhân văn đúng như những gì mình đã học từ những thầy cô đầy tâm huyết đang từng ngày truyền thụ kiến thức cho bao lớp sinh viên như tôi.

    Chớp mắt, 4 năm Đại học dần trôi, 4 năm tôi khoác trên mình chiếc áo “Văn khoa”, sau cái ngày ba lặng lẽ thả tay tôi ra trước cổng trường, giữa những bộn bề lo toan cho cuộc sống của một đứa sinh viên ở trọ, ngày hai buổi đều đặn ôm tập sách lên giảng đường, khi đêm về lưng áo ướt đẫm mồ hôi xen giữa những buổi cật lật chạy việc làm thêm, tôi vẫn luôn tự hỏi tại sao mình vẫn chưa gục ngã? chưa bỏ cuộc? có lẽ chính tình yêu với nơi đã cho tôi thêm nhiều kiến thức, giúp tôi hiểu thêm cuộc đời này “muốn đi qua ngày nắng thì cũng cần có những ngày mưa” đã khiến nụ cười trên môi tôi chưa bao giờ vụt tắt, dù có những đêm nằm vùi nhớ ba, nhớ mẹ, nhớ chị, nhớ em hay lặng thầm nuốt giọt nước mắt đắng chát quay đi giữa tiếng đuổi xua của bà chủ nhà trọ cho cái tội thiếu tiền phòng, mà tôi tin là bất cứ đứa sinh viên tỉnh lẻ nào như tôi thời đó cũng đều mắc phải.

    Nhưng nhớ nhất đối với tôi không phải là những nỗi nhọc nhằn, cho đến giờ, trong phút chốc, từng gương mặt, nụ cười của bạn bè, thầy cô, những giờ thảo luận sôi nổi nơi ghế đá hay lời thầy hướng dẫn khi đi thực tế tại vùng đất Sóc Trăng xa xôi thưở đó, như vẫn còn hiện hữu, dù đã gần 20 năm tôi xa trường. Trong tôi, vẫn vẹn nguyên niềm tự hào về ngôi trường với bề dày lịch sử, đã đi cùng những năm tháng kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc cho đến ngày độc lập, sản sinh cho đời bao lớp thế hệ tinh hoa.  

    Tôi bây giờ lại ước, được một lần quay trở lại đứng trước cổng trường như cái thời đã xa ấy, chắc không còn những cảm giác bỡ ngỡ, không còn cái nắm tay thật chặt rồi dần thả lỏng của ba, thay vào đó sẽ là những giọt nước mắt mang vị ngọt của một người đã trưởng thành, khôn nguôi nhớ về những kỷ niệm. Những năm tháng đẹp nhất của tuổi trẻ, những nhọc nhằn nhất của đời mình, tôi đã gửi lại nơi ngôi trường thân yêu này để tự tin sãi bước vào đời, dù không thiếu đôi lần vấp ngã nhưng rồi cũng tự mình đứng dậy, lau khô những vết trầy xước như cái thời mình từng là sinh viên “Văn khoa” - lãng mạn và đầy mạnh mẽ, nghị lực.

    Tháng 6/2017

    Anh Thụy
    Sinh viên Lớp Văn 4B, Khoa Ngữ văn – Báo chí, khóa 1996 – 2000

  • Văn khoa ngày xưa ơi ! (Lê Văn Nghĩa)

    Năm 1973, nhờ 'chính sách' ghi danh tự do, lọ mọ thế nào đó tôi vẫn trở thành sinh viên ban triết tây của Trường ĐH Văn khoa.

  • Sinh viên văn khoa ấy mà! (Phan Hoàng)

    Chúng tôi là sinh viên khoá 1987-1991!


    Thời gian trôi qua cũng đã 40 năm thành lập Khoa Ngữ văn Đại học Tổng hợp TP.HCM, nay là Khoa Văn học và Ngôn ngữ Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM, cũng là dịp lớp chúng tôi kỷ niệm 24 năm ngày tốt nghiệp.


    Để duy trì tình cảm bạn bè thâm niên, lớp chúng tôi cũng đã liên tục 8 năm tổ chức các buổi họp mặt thường niên vào đầu tháng tư ở TP.HCM, Long An, Vũng Tàu… Nhiều bạn ở tỉnh xa cũng tranh thủ về gặp nhau trong tình thân ấm áp.


    Sĩ số lớp chúng tôi hơn 60 người, hai năm đầu học ở Cơ sở 3 Thủ Đức và sống chủ yếu tại ký túc xá. Thực ra ban đầu lớp chính quy chỉ gần 50 bạn nhưng đến hết năm thứ nhất thì nhà trường nhập thêm các bạn từ lớp cử tuyển nên sĩ số tăng lên. Ấy vậy mà sĩ số con gái cũng ít hơn con trai một chút ! Sinh viên văn khoa ấy mà!


    Từ khắp mọi miền đất nước, lớp chúng tôi tụ về với một mái nhà, đông nhất là người Sài Gòn và Nam Bộ, hai bạn ở Bình Thuận, hai bạn ở Đắc Lắc và một bạn ở Phú Yên. Giống như các bạn sinh viên lớp khác ở ký túc xá, chúng tôi cũng thích chơi đá banh, bóng chuyền, bóng bàn, đàn hát và ngồi cà phê ký nợ tán gẫu. Có điều sinh viên khoa văn lúc nào cũng “quậy” hơn, lãng mạn hơn, nhất là phái đẹp luôn là tâm điểm cho sinh viên các khoa khác, trường khác ngắm nghía và “tấn công”. Đêm đêm phòng nữ lớp văn luôn “đắt” khách. Chiều chiều, cả những lúc trời mưa, nếu thấy có ai lang thang trên con đường mòn quanh ký túc xá thì đích thị đó là các bạn lớp chúng tôi. Sinh viên khoa văn mơ mộng ấy mà!


    Hai năm đầu đại học, hầu như tất cả các bạn khoa văn đều sáng tác, có tác phẩm xuất hiện thường xuyên trên bản tin ký túc xá. Có phòng còn thi nhau làm thơ suốt đêm chờ sáng đi… ký nợ khoai mì. Thơ văn chủ yếu viết về nỗi nhớ quê hương, đời sống vui buồn ký túc xá, sự trăn trở trước những bất công của xã hội và nhất là tình yêu lứa đôi hừng hực lúc kín lúc mở. Một số bạn còn có bài đăng trên các báo. Mỗi lần bạn nào đi lấy nhuận bút là mỗi lần cả nhóm, cả phòng hồi họp chờ… cà phê hay nhậu. Nhưng nhuận bút nào đủ nhậu, có khi còn phải cầm thêm đồng hồ, xe đạp để… chiêu đãi vì “sướng” có thơ văn đầu tay đăng báo. Vui là chính. Tiền là phụ. Cảm hứng của sinh viên khoa văn ấy mà!


    Và còn rất nhiều kỷ niệm vui buồn “đặc sản” của sinh viên khoa văn trong bốn năm đại học từ Thủ Đức về trung tâm Sài Gòn mà từng thành viên của lớp chắc chắn sẽ ghi lại, nhắc lại vào những dịp nào đó trong cuộc đời mình ! Hành trang sinh viên văn khoa ấy mà!


    24 năm đã trôi qua. Thời gian trôi vùn vụt như nhan sắc sắp về chiều của phái đẹp. Rời mái trường thân yêu, xa thầy cô, chúng tôi chia tay nhau mỗi người về mỗi ngả, đi mỗi hướng. Cầm tấm bằng cử nhân văn chương tìm việc hết sức khó khăn. Đa số các bạn trở về quê hương. Một số bạn tỉnh xa cố gắng trụ lại Sài Gòn. Bây giờ gặp lại thì phần lớn đều thành đạt, thành danh, thậm chí có bạn giàu to nhờ nỗ lực… kinh doanh. Một số bạn đi dạy học, nghiên cứu thành tiến sĩ lúc nào chẳng biết. Có bạn làm công chức chính quyền sáng cắp ô đi chiều mang về, hoặc bàn giấy văn phòng công an. Có bạn làm hải quan. Có bạn làm tư vấn 1080. Có bạn làm du lịch. Có bạn làm quảng cáo. Có bạn học thêm chuyển ngành làm tài nguyên môi trường, luật sư, môi giới chỉ chỏ. Và có bạn làm nghề tự do hoặc chẳng rõ đang làm nghề gì mà vẫn sống mạnh sống khoẻ. Chuyện lạ sinh viên khoa văn ấy mà!


    Tất nhiên, đã học văn, lớp chúng tôi ra trường làm việc nhiều nhất vẫn là cầm bút. Chủ yếu là làm báo. Còn viết văn làm thơ từ hơn 60 bạn thuở mới vào đại học giờ chỉ còn lại… duy nhất một người. Dù sao khoá này còn hơn nhiều khoá khác khi chẳng ai thèm theo đuổi con đường đam mê văn chương gian nan nhưng chưa hẳn nghèo khó. Riêng về nghề báo nhiều bạn thành công. Lúc mới ra trường chỉ có một bạn được nhận làm báo chính thức, còn bây giờ thì hầu như báo đài nào lớp chúng tôi cũng có mặt, từ Sài Gòn Giải Phóng, Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Phụ Nữ, Lao Động, Đài Truyền hình TP.HCM,… đến cả báo Văn Nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Đó là chưa kể các báo tỉnh. Đặc biệt hơn, nhiều bạn đã trở thành “quan báo” giữ những vị trí chủ chốt như phó tổng biên tập, tổng thư ký toà soạn, phó tổng thư ký toà soạn, trưởng ban, phó ban,… hoặc phụ trách báo chí truyền thông Hội Nhà văn TP.HCM. Người văn khoa ấy mà !


    Một điểm cuối cùng cần phải nói đến là nhan sắc và tài năng của phái đẹp lớp văn khoá 1987-91. Nếu như nam giới có nhiều người thành đạt có chân thấp chân cao “quan văn”, “quan báo” thì chị em cũng chẳng kém cạnh, một số bạn còn nắm quyền “sinh sát” lĩnh vực mình phụ trách. Có bạn còn là giám đốc kinh doanh.Còn về nhan sắc thì thế nào nhỉ? Theo bình luận của giới mày râu trong lớp, thuở còn đại học thì chỉ số ít chị em thực sự xinh đẹp, có người nhìn ngờ nghệch quê mùa, có người mặt mụn không chỗ trống, có người mãi mặc quần thun xoăn lên “chó táp bảy ngày không tới”. Vậy mà chả hiểu vì sao sau một thời gian ra trường, gặp lại thì thấy chị em nào cũng xinh cũng đẹp. Càng gặp càng thấy duyên dáng gợi cảm. Càng ngày càng hồng hào mơn mởn. Càng về sau càng tươi tắn mặn mà. Đẹp và tinh tế từ hình thể đến cung cách ứng xử. Chắc nhờ từng học văn ấy mà! Con gái văn khoa ấy mà!


    Phan Hoàng

    (SV Khoa Ngữ văn khoá 1987-1991)


  • Trường đại học được hình thành từ thời Pháp ở Sài Gòn

    Bắt đầu từ lớp cao đẳng dự bị, qua nhiều lần sáp nhập, trường phát triển và giờ trở thành Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

12