Ngày 27/10/1976, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 426/TTg về một số vấn đề cấp bách trong mạng lưới các trường đại học ở miền Nam, tổ chức lại các trường thuộc Viện Đại học Sài Gòn. Theo quyết định này, các trường đại học tại TP. HCM được kết hợp, tổ chức lại thành 8 trường: Đại học Tổng hợp TP. HCM (hợp nhất Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học từ Viện Đại học Sài Gòn), Đại học Bách khoa TP. HCM (tiền thân là Đại học Kỹ thuật thuộc Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức), Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM (Giáo dục Thủ Đức), Đại học Y – Dược TP. HCM (Sát nhập Y khoa, Nha khoa, Dược khoa thuộc Viện Đại học Sài Gòn), Đại học Kinh tế TP. HCM (Luật khoa), Đại học Kiến trúc TP. Hồ Chí Minh, Đại học Nông nghiệp TP. HCM, Đại học Sư phạm TP. HCM.


Chính thức thành lập ngày 1/12/1976 theo quyết định số 950/QĐ của Bộ Đại học và Trung học Chuyên nghiệp trên cơ sở hợp nhất Đại học Văn khoa và Đại học Khoa học (Viện Đại học Sài Gòn), Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM đảm nhận việc đào tạo cán bộ nghiên cứu khoa học tự nhiên và xã hội, đào tạo giảng viên giảng dạy khoa học cơ bản cho các trường trong khu vực. Trường gồm 16 khoa: Toán, Vật lý, Hóa, Sinh, Địa lý, Địa chất, Ngữ văn, Lịch sử, Triết học, Kinh tế, Thư viện, Ngữ văn Anh, Ngữ văn Pháp, Ngữ văn Nga, Đông Phương học và bộ môn Luật. Ngoài ra, trường còn có 7 trung tâm nghiên cứu khoa học – dịch vụ và sản xuất. Trong gần 20 năm tồn tại (1977-1995), Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM chính là cái nôi đào tạo hàng ngàn nhà khoa học trẻ trên hai lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và là một trung tâm đào tạo, nghiên cứu khoa học cơ bản lớn nhất ở phía Nam, có mối quan hệ với hàng chục trường đại học, viện và tổ chức giáo dục trên thế giới.

 

Hoạt động đào tạo của toàn trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh khi bước vào thời kỳ đổi mới vẫn duy trì và phát triển hai hệ đào tạo chính ở bậc đại học là hệ chính quy và hệ tại chức, trong đó lấy hệ chính quy làm chuẩn. Trường đào tạo hai khối ngành là Khối ngành Khoa học Xã hội và khối ngành Khoa học Tự nhiên.


Cơ sở chính của Trường (gọi là cơ sở I) ở 272 Nguyễn Văn Cừ, Quận 5 là nơi đào tạo khối ngành khoa học tự nhiện. Còn cơ sở II ở 10 – 12 Đinh Tiên Hoàng, Quận 1 đào tạo khối ngành khoa học xã hội; Cơ sở III ở Xã Tăng Nhơn Phú, Thủ Đức (nay là cơ sở Linh Trung ). Ngoài ra còn có Cơ sở ở 135 Nguyễn Chí Thanh, Quận 5; Cơ sở Đường Điện Biên Phủ, Quận 10; Cơ sở ở Đường Trần Quang Khải, Quận 1 và một Ký túc xá ở 135B Trần Hưng Đạo, Quận 1.


Theo quy chế chung của Bộ và tuyển sinh hàng năm theo kế hoạch chung của cả nước, hệ chính quy ở các khoa khoa học xã hội hàng năm đều có chỉ tiêu được phân bổ chủ yếu dựa vào cơ cấu ngành và năng lực đội ngũ giảng dạy. Các khoa khoa học xã hội xây dựng cơ cấu ngành có dựa vào nhu cầu xã hội ở phía Nam trong thời kỳ đổi mới xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội; tuy nhiên vẫn lệ thuộc khá nhiều vào đội ngũ hiện có để phản ảnh đúng năng lực khoa học thực có của từng khoa/bộ môn.


Nhà trường xác định phạm vi và quy mô đào tạo hệ chính quy trước hết phục vụ cho nhu cầu các tỉnh/thành Nam bộ và các tỉnh phía Nam, nhưng cũng không hạn chế vùng miền mà cần mở rộng cả nước. Hàng năm tuyển sinh vào cuối tháng 6-đầu tháng 7, nhập học giữa tháng 9; việc học tập được tổ chức theo học kỳ và năm học từ tháng 9 đến tháng 7 năm sau; thời gian cho việc học tập chính là 30 tuần lễ, 7 – 8 tuần cho việc thi cử. Thời gian còn lại dành cho thực tập ngoài trường, học quân sự, ôn tập; thời gian nghỉ tết là 2 tuần, nghỉ hè 4 – 6 tuần…

 

Việc thi tuyển theo quy chế tuyển sinh chung; phần lớn sinh viên trúng tuyển là con em cán bộ, nhân dân lao động ở các tỉnh thành phía Nam, chủ yếu là từ Thuận Hải trở vào. Chỉ tiêu tuyển sinh hàng năm hệ chính quy của trường khoảng 600 – 700 sinh viên; sinh viên có thể được bố trí chỗ ở trong ký túc xá theo khả năng của trường (ưu tiên cho sinh viên học bổng và chính sách); tốt nghiệp hệ chính quy của trường, sinh viên được cấp bằng Cử nhân khoa học.

 

Tổ chức đào tạo theo chế độ học phần ở các khoa chủ yếu là giai đoạn II – giai đoạn đào tạo chuyên ngành. Nhà trường và các khoa/bộ môn đã sắp xếp thời khóa biểu tạo điều kiện cho sinh viên được kích thích tinh thần chủ động học tập và nghiên cứu, phát huy khả năng tự học tự nghiên cứu, tránh được tình trạng ỷ lại trong học tập của sinh viên. Sự liên kết thời khóa biểu của các khoa tuy có gây ra khó khăn cho công tác quản lý đào tạo, nhưng thực tế có tác dụng tạo ra khả năng đào tạo diện rộng, giúp cho người học có nhiều khả năng học vượt, học thêm, từ đó có thêm nhiều cơ hội phát triển khi ra trường.


Chất lượng đào tạo theo học chế học phần được đánh giá không phải chỉ bằng 1 thông số về điểm thi như hệ niên chế, mà được đánh giá bằng 2 thông số là điểm thi học phần và số lượng học phần đạt được. Nhiều sinh viên tốt nghiệp những năm 1990-1995 có thời gian đào tạo 4-5 năm đã có 2 văn bằng cử nhân.


Sinh viên các ngành khối Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh được đào tạo phục vụ cho các lĩnh vực như giảng dạy, nghiên cứu, công tác ở các cơ quan quản lý. Thống kê năm 1989, tổng số sinh viên tốt nghiệp của 4 ngành Ngữ văn, Lịch sử, Ngoại ngữ, Triết học trong 4 năm 1985-1988 là 550, trong đó số sinh viên được phân công công tác là 459 sinh viên, tỷ lệ như sau[1]:

  • Công tác ở các Viện khoa học, giảng dạy là 37%
  • Công tác tại cơ quan văn hóa, thông tin, báo chí, truyền hình, hợp tác lao động là 17%
  • Công tác khác (xí nghiệp, cơ quan Đảng, chính quyền, đoàn thể) là 46%

Về đào tạo sau đại học, từ năm học 1989-1990 trở đi, một số khoa Khoa học xã hội (Ngữ văn, Lịch sử, Triết học) bắt đầu tuyển sinh Sau đại học với cả 2 bậc: Cao học và Nghiên cứu sinh.

 

Mục tiêu đào tạo của bậc Sau đại học là nhằm đào tạo cán bộ khoa học có kiến thức chuyên sâu, tiếp cận với trình độ hiện đại, có khả năng nghiên cứu độc lập và giảng dạy ở bậc đại học theo chuyên ngành. Bên cạnh việc củng cố kiến thức cơ sở và nâng cao trình độ chuyên môn của chuyên ngành, người học còn được trang bị một số kiến thức liên ngành và phương pháp nghiên cứu để tổ chức thực hiện các đề tài khoa học. Luận văn thạc sĩ đạt loại xuất sắc có thể tiếp tục mở rộng và nâng cao thành luận án tiến sĩ.


Hàng năm, việc tuyển sinh Sau đại học do Nhà trường chịu trách nhiệm. Đối với các ngành Sau đại học ở các khoa Khoa học xã hội và nhân văn, các môn thi cho Cao học gồm Ngoại ngữ (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung - Trình độ B), Môn cơ bản (Triết học) và Môn cơ sở (Tuỳ theo ngành). Các môn thi cho Nghiên cứu sinh (chưa có bằng Thạc sĩ ) là Ngoại ngữ (Anh, Nga, Pháp, Đức, Trung - Trình độ C), Môn cơ bản (Triết học), Môn cơ sở (Tuỳ theo ngành), Môn chuyên ngành (Tuỳ theo ngành) và Đề cương nghiên cứu (dự kiến). Nếu đã có bằng Thạc sĩ, thì thí sinh Nghiên cứu sinh thi 3 môn: Ngoại ngữ, Môn chuyên ngành và Đề cương nghiên cứu.


Chương trình Sau đại học của các ngành được xây dựng theo khung chung của Nhà trường, có tham khảo chương trình các ngành tương ứng của các Trường, Viện khác. Khối lượng toàn bộ chương trình Cao học gồm từ 80 – 100 đơn vị học trình (ĐVHT), với cơ cấu như sau:

+ Các môn chung: chiếm 1/3 chương trình

+ Các môn cơ sở ngành, chuyên ngành: chiếm 1/3-1/2 chương trình

+ Luận văn Thạc sĩ: 1/10 chương trình


Việc bảo vệ luận văn Thạc sĩ được thực hiện qua một Hội đồng gồm 5 thành viên là những nhà khoa học có học hàm, học vị, am hiểu vấn đề liên quan đến đề tài luận văn. Đối với bậc Tiến sĩ, Hội đồng bảo vệ luận án Tiến sĩ cấp cơ sở hay cấp Nhà nước có 7 thành viên là những nhà khoa học có chuyên ngành cùng với ngành đào tạo Nghiên cứu sinh.



Năm 1990, Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Bộ GD&ĐT) tổ chức bầu cử trực tiếp chức vụ Hiệu trưởng trường ĐHTH TP.HCM, GS.TS Nguyễn Ngọc Giao, chủ nhiệm Khoa Vật Lý được bầu làm Hiệu trưởng Trường ĐHTH TP.HCM (nhiệm kỳ 1990 – 1994). Sau đó GS.TS. Nguyễn Ngọc Giao được Bộ GD&ĐT bổ nhiệm lại chức vụ Hiệu trưởng cho đến năm 1996 là năm chia tách Trường ĐHTH TP.HCM thành nhiều đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM).

Nguồn: Tài liệu của Trường ĐH KHXH&NV

 

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.