Chúng tôi đã sống những tháng ngày như thế... (Trân Châu)

Thời của chúng tôi gần như chỉ có xe dạp là sang nhất, chưa có máy tính và chưa có khái niệm @, nhưng khối sách vở từ các thư viện chính là tài sản mà chúng tôi ngụp lặn tha hồ. Rất hiếm ai đó có nhiều tiền để mua sách, thơ về đọc và đã có thì luôn nghĩ ngay đến việc có một lúc sẽ mất. Ghi chép, chuyền tay nhau từng cuốn sách, miếng cơm cháy xin từ bếp Ký túc xá và san sẻ cho nhau từng chuyện vui buồn qua những bức thư..


Không gì kiêu hãnh và hạnh phúc như ngày nhận phiếu trúng tuyển vào đại học. Học ở đâu? Học cái gì không quan trọng, chỉ biết rằng ước mơ đến với giảng đường Đại học là một cái gì đó rất đỗi thiêng liêng, cao xa lắm trong mơ ước tuổi học trò.


Và cái ngày ấy cũng đã đến... Chặng hành trình dài non một ngày đường với chỉ 200 km, trên chiếc xe đò chạy bằng than củi, đến bến xe Miền Đông khi phố lên đèn, tất cả trong tôi như một thế giới thần tiên, xa lạ. Khi tìm đến cơ sở 1 của Trường ở số 227 Nguyễn Văn Cừ, Quận 1 (nay là Đại học Khoa học tự nhiên) để nộp hồ sơ, việc đầu tiên với tôi là mon men đến Đại giảng đường để... xem. Xem cho biết thứ mà bao nhiêu năm mình từng ước mơ, bao nhiêu bạn bè không may mắn đã không có cơ hội đặt chân đến. Xem để biết cho tường tận cảm giác đê mê sung sướng và hạnh phúc tột đỉnh của đứa học trò nghèo miền Trung mỗi sáng đi học chỉ lận trong áo củ khoai lùi... Nghe tiếng thở nhẹ sau lưng, tôi giật mình quay lại, một cô bé nhìn tôi mỉm cười kín đáo với sự cảm thông, chia sẻ... Hình như cô bé cũng đang giống như tôi.


Hôm sau nhà trường bố trí xe đưa lên Thủ Đức- Hai năm học đầu tiên ở một nơi xa nội thành, bốn bề là cây bụi và cỏ dại, vắng vẻ như ở quê. Vài thằng bạn tay xách nách mang đến nhận cùng phòng. Dăm câu hỏi thăm làm quen, vì biết chắc sẽ còn đeo bám nhau như nợ nần suốt bốn năm sau... Sau đó, đám con trai nghĩa hiệp ra tay mang vác vạt giường, mượn đinh búa, lên xây tổ cho các bạn nữ và cho chính mình. Cái tổ đầu tiên trên tầng giường đôi là bốn cột mùng cá nhân và kệ để chiếc rương gỗ- gia tài vô giá của sinh viên. Thủ Đức chào đón các tân sinh viên bằng một cơn mưa, sau khi tan buổi họp mặt ra về. Xa lạ, lần đầu tiên gặm nhấm nỗi buồn. Một số ngồi tán gẫu với nhau, rồi làm quen, nhận đồng hương. Đa số ngồi vào viết nhật ký- những dòng chữ tươi roi rói kỷ niệm tự hào và nỗi nhớ nhà quay quắt.


Bữa học đầu tiên không hứng thú mà cũng không có gì đặc biệt. Mấy giảng viên trẻ dành trọn buổi cho việc làm quen, giới thiệu học phần và chia sẻ những băn khoăn đầu tiên về ăn ở, sách tập, đi lại... Lũ học trò không đều nhau ngồi nín khe không một tiếng động vì chỉ sợ vỡ tan không khí thiêng liêng của ngày đầu tiên trên giảng đường đại học. Mọi giao tiếp trong khu Ký túc xá diễn ra bằng tem phiếu, những cơn đói bụng về đêm đầu tiên lại cắn bao tử cồn cào... Hùng- từng là cảnh sát Phòng cháy chữa cháy ở Cửu Long tướng mạo khá ngầu, cao trên 1m80 và mọi thứ đều như sống tầng trên với mọi người, gợi ý: Mua phiếu ăn bữa nào cũng đói. Mua gạo về tự nấu ăn lợi hơn... Hai cái nồi be bé hiện ra sau buổi lê bộ ra chợ Tăng Nhơn Phú, một công việc mới bắt đầu. Thế là hàng buổi chiều sau giờ học, khói lửa um tùm nấu ăn. Lá tràm, củi tràm, sẵn có ngay trước phòng ở, nhưng phải chịu vất vả. Đến khi có nhiều nhân vật ra riêng theo mô hình tự túc, vạt giường là món tài sản công đầu tiên bị đe doạ xoá sổ. Không ít những lần Ban quản lý Ký túc xá lên loa thông báo, đe doạ... đuổi ra ký túc xá nếu vi phạm. Lần khác, lớp chuẩn bị liên hoan cuối năm, cả bọn ngồi vắt óc, thu gom tiền cũng chỉ đủ mua đường tán, vật liệu nấu đành phải “giở ngón nghề” trộm khoai mì. Cả một vùng quanh ký túc xá đều có trồng mì. Bữa liên hoan chè khoai mì ngon chưa từng có, nhưng khi Giáo viên Chủ nhiệm hỏi mì ở đâu ra, mỗi đứa trả lời một kiểu. Sung túc nhất có lẽ là chiều thứ bảy, rất nhiều phiếu ăn gởi lại, và người ở lại tận thu ra quán “ba Cà Tưng” đổi cơm lấy khoai mì luộc...


Có một thứ luôn luôn thừa mứa ở Thủ Đức, đó là khung trời thơ mộng dành cho tình yêu và chỗ ngồi học bài. Cả một rừng tràm, rừng điều xa hơn một chút và những đêm trăng sáng nguyên vẹn, tinh khiết. Mãi về sau khi về thành phố, rồi ra đời tất bật với công việc, chưa bao giờ có được những đêm trăng tuyệt vời như hồi ấy. Kỷ niệm về tình yêu, vui buồn ăm ắp trong lòng mỗi người, nhất là những sinh viên nội trú. Nhưng có lẽ ai cũng tủi thân, ghét nhiều nhất là những chiều thứ bảy cuối tuần. Sinh viên Khoa Văn sáng tác thơ để tự vỗ về mình: “Thứ bảy chiều em về thành phố- Cửa sổ phòng anh vẫn mở nhìn theo- Anh bỗng ghét con đường đất đỏ- Đón em đi vào thứ bảy chiều...”. Nhà thơ Hoài Việt, hiện đang là Trưởng phân xã Bến Tre là người ít nói, nhưng khá nội tâm. Vũ Hồng -“Bông tre” ở Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu -Bến Tre bây giờ gần như tuần nào cũng sáng tác ra thơ, cho mình và cho bạn bè. Lê Minh Quốc (Báo Phụ nữ TP.HCM) sôi nổi, đa tình pha chút suy tư của người lính từ Campuchia lửa đạn trở về, Nguyễn Quốc Chánh sâu lắng, bác học đôi khi trừu tượng và dữ dội đến gân guốc, Trương Nam Hương lãng mạn, mềm như liễu buông vần lục bát... hầu hết đều làm thơ từ khi chưa vào Đại học. Chính những năm tháng ở đây đã chắp cánh cho rất nhiều vần thơ tình bay bổng, hay hơn. “Hai đứa dắt nhau đi dưới phố nợ nần” rồi đôi khi lại bào chữa cho sự nghèo khó “anh không có cup để chở em đi chơi Vũng Tàu vào những ngày chủ nhật, và dĩ nhiên là không tiền để ra phố đêm đêm”. Có chút pha lẫn âm hưởng “cà phê” của Lê Thị Kim (Em thử hình dung nếu một ngày trái đất thiếu cà phê...). Thiếu tiền, thiếu sách đọc, không phương tiện, Nguyễn Quốc Chánh dệt thơ trên chiếc xe đạp sườn ngang “bất hủ” của mình. Số đông chọn giảng đường, gốc cây tràm, bờ hồ đá xanh, hồ Than thở bên cạnh khu Ký túc xá để thả hồn... Ngày đó chúng tôi chỉ biết lao vào đọc ngấu nghiến và học như nạp chữ cho đầy người. Phía trước là con đường gì chưa ai định vị, chưa ai nhìn thấy. Vài anh bạn viết thơ văn gửi báo có vài ngàn nhuận bút cũng chưa nghĩ ra mình sau này thành nhà báo, nhà thơ, nhà văn. Trước mắt là học và không thi lại các môn khó gặm như Triết, Quân sự và tiếng Nga, qua được ải này, hẳn tính tiếp. Thầy Trần Chút bảo: “Các bạn học nhiều đi, đây là thời gian tốt nhất để các bạn học tập và để dành cho mai sau”... Giáo sư Mai Cao Chương có chất giọng “ồm ồm” khá đặc biệt. Thầy dạy chúng tôi: Học Tổng hợp Văn, giảng viên chỉ dạy cho các bạn cách nghiên cứu, sáng tạo...”, còn Thầy Chương Hưng “ba cùng” với sinh viên Thủ Đức chỉ nói nhẹ nhàng: sau này ra trường các bạn mới thấm những điều mình đang học. Có hai thầy trẻ là Đoàn Lê Giang và Nguyễn Công Đức gần như lôi hết ruột gan ra với sinh viên chúng tôi như một thành viên, một người anh, ranh giới thầy và trò không còn là rào cản. Không hiếm những đêm ngủ lại Ký túc xá với sinh viên để được đọc thơ, kể chuyện và khiêu vũ bên nồi khoai mì luộc... Mãi về sau hơn 10, 15 năm trôi qua, các thầy trở thành Tiến sĩ, có thầy nghỉ hưu, nhưng với thế hệ chúng tôi vẫn gắn bó thân thiết như ngày nào. Điều mà các thế hệ sau này không tái lập được bởi năm tháng “tem phiếu” thời bao cấp đã gắn kết và hun đúc nên tình người rất vẹn nguyên và sâu sắc lắm.


Không hẹn, cũng không nhiều chuẩn bị, thế nhưng hơn 10 năm sau, nhiều thế hệ sinh viên Khoa Ngữ văn đã trở thành những nhà báo và đã khẳng định tên tuổi mình một cách đáng tự hào. Những khoá đầu tiên có Võ Hồng Tuyến (Báo Tiền Phong), Huỳnh Dũng Nhân (Báo Lao Động), Lê Tiền Tuyến (báo Sài Gòn Giải Phóng), Nam Sơn (Báo Nông Nghiệp), Thái Thăng Long (Nhà Xuất bản Thanh Niên)... kế tiếp là những nhà báo như: Thanh Hải, Nhi Dũ (Báo Người Lao Động), Việt Oanh, Việt Bình (Đài Truyền hình TP. HCM), Lê Minh Quốc (Phụ Nữ TP.HCM), Phong Lan, Hương Yên, Nguyên Hạnh, Hồng Liên, Ngọc Anh (Sài Gòn Giải Phóng), Thu Thuỷ (Báo Bình Thuận), Hồng Lâm (Báo Nhân Dân), Ngọc Vinh (Tuổi Trẻ), Hoài Việt (Thông tấn xã VN), Vũ Hồng, Hồ Trường (Hội Văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu - Bến Tre), Trần Hiếu (Tiền Phong), Lại Văn Long (Công An TP. HCM), Hoài Bão (Đài Truyền hình TP.HCM), Hằng Hải (Đông Quân - Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM), Trung Phương, Cao Hùng (Lao Động), Duy Chiến (Nông Nghiệp), Cao Minh Hiển, Đặng Việt Hoa, Tấn Tú, Võ Khối (Báo Thanh Niên), Hữu Thân (Người Lao Động), Phan Hoàng (Kiến thức ngày nay), Cẩm Lệ (Doanh Nghiệp)... Có hàng trăm nhà báo các báo, đài Trung ương và Thành phố, các tỉnh thành đang công tác trên địa bàn thành phố đều từ khoa Ngữ Văn của thời chưa là Ngữ văn & Báo chí mà không thể nhớ hết tên được. Tất cả chúng tôi đều có rất nhiều điểm chung nhau về lớp Văn, Khoa Ngữ Văn, Trường Đại học Tổng hợp TP.HCM và có hai năm sống và học ở Thủ Đức, hai năm học ở Đinh Tiên Hoàng...


Năm tháng trôi qua nhanh, giật mình nghĩ lại tóc đã bạc màu. Rủ mấy người bạn cũ chạy ra Thủ Đức tìm lại chút kỷ niệm xưa nhưng đã có quá nhiều đổi thay. Vài cây tràm còn sót lại nhận ra tôi, con đường cũ biết tiếng chân tôi và ký ức vẫn hoài sống trong lòng mỗi chúng tôi.


Trân Châu
(SV Khoa Ngữ văn khoá 1985 – 1989)


Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.