Nghĩ từ bục giảng (Trần Lê Hoa Tranh)

Nếu tóm tắt sự nghiệp của một người bằng những nơi học hành, làm việc mà người đó trải qua, thì tiểu sử của tôi thật quá đơn giản, quá ngắn gọn: chỉ có một nơi chốn, mang ba cái tên: Văn Khoa- Tổng hợp- Nhân văn.


TUỔI THƠ CỦA TÔI CÓ TÊN GỌI: VĂN KHOA


Nhà tôi trước 1975 có một cửa hàng cho thuê sách. Sau 1975, ba tôi lén giữ lại được một số sách không bị đốt trong đợt tiêu hủy văn hóa phẩm đồi trụy, nhớ đó mà tôi biết đến những cuốn sách trước 1975 của Thanh Lãng, Huỳnh Minh Đức, Phạm Công Thiện, Uyên Thao… Tôi biết đến tên gọi Văn Khoa từ đó. Tôi biết đến những tập nhạc của Phạm Duy và tập tành hát theo cô chú mình: “Trả lại em yêu, khung trời đại học”, “Hỡi người tình Văn Khoa, bóng người trên hè phố, lá đổ để đưa đường, cho người tình Trưng Vương”…


Tôi yêu và hâm mộ Văn Khoa từ khi còn là một cô bé như thế. Trong trí tưởng tượng của tôi, Văn Khoa là một khung trời thơ mộng, lãng mạn của những trí thức tương lai, và tôi ước mình là một trong số đó.


THANH XUÂN CỦA TÔI CÓ TÊN GỌI: TỔNG HỢP


Thế rồi, ôm mộng trở thành một phóng viên, tôi thi vào Tổng hợp Văn.


Bốn năm đại học của tôi như thế nào? Đầu óc con người không phải là một cái CPU có thể chứa tất cả những kỷ niệm. Có một số ký ức tôi đã quên, khi ngồi tám tụm với bạn bè, nhắc lại mới có thể nhớ gương mặt này, gương mặt kia, chuyện nọ, chuyện kia,…nhưng đầu óc con người hơn cái CPU ở chỗ, nó có thể ghi nhớ những cảm xúc.


Cảm xúc của tôi về bốn năm đại học tới giờ vẫn vẹn nguyên mới mẻ. Đó là những năm tháng mãnh liệt, vô tư, bùng phát. Đó là một tập thể không hoàn hảo nhưng không hề vụ lợi. Đó là những khuôn mặt lạ và quen (thậm chí có người còn chưa nói chuyện bao giờ) nhưng không ganh ghét, không thù hằn, không tính toán,…Tại sao ký ức tôi lại có thể lưu giữ những ấn tượng tốt đẹp, còn những gì không vui thì tự đào thải? Sau hơn 20 năm ra trường, giờ tôi có thể lý giải: vì đó là những năm tháng mang tên THANH XUÂN!


Không còn là những cô cậu bé nửa trẻ con nửa người lớn như thời phổ thông, nhưng cũng không phải là những người lớn toan tính vật chất, sự nghiệp với cuộc đời như khi ra trường. Chúng tôi là những người trẻ, đi cùng nhau một quãng đường bốn năm, cùng có chung tình yêu văn chương, cùng có chung những tố chất hăm hở và bồng bột. Ký ức tôi là một dòng chảy không bị đứt đoạn vì sau đó tôi được giữ lại trường. Nhưng thật lạ là các bạn tôi, khi ngồi trò chuyện, vẫn nhắc mãi sự hào sảng của thầy Hoàng Như Mai khi thầy kể về quãng thời gian lập đoàn kịch; sự chân chất, vụng về nhưng uyên bác của thầy Lê Đình Kỵ khi thầy giảng Kiều; sự say sưa như trong cõi riêng của thầy Mai Cao Chương khi thầy cứ ngước lên trần nhà và đọc “Chu tước kiều biên dã thảo hoa…”; sự nghiêm túc và mô phạm của thầy Nguyễn Khuê khi học giờ thầy thì đứa nào cũng cầm chắc bụng đói vì thầy hay cho ra trễ; sự nhiệt tình, hết mình của thầy Nguyễn Tri Tài khi thầy vừa giảng bài vừa ho, mà dáng thầy thì nhỏ xíu; thậm chí chúng tôi có khi còn lăn ra cười khi nhắc đến dáng vẻ thầm thì, nhỏ nhẹ khi giảng bài của thầy Nguyễn Văn Hà; hay vẫn còn tấm tắc trước vẻ đẹp trai của thầy Trần Thanh Đạm, thầy Nguyễn Đức Dân, thầy Huỳnh Như Phương, thầy Võ Văn Nhơn; nét dịu dàng xinh đẹp của cô Đoàn Ánh Loan (mà đám con trai lớp tôi đứa nào cũng ao ước sau này có vợ đẹp như thế), cô Trần Thị Phương Phương (hồi dạy lớp tôi cô mới đi Nga về, trắng hồng, má phúng phính),…


Bốn năm đại học của chúng tôi có lúc đói, lúc no, có lúc vui, lúc buồn, nhưng chúng tôi không bao giờ quên được những ngày đi thực tập ở Huế; không bao giờ quên được những đêm lửa trại xôn xao mà hồi đó, lớp nào cũng háo hức, lớp thì đóng Số Đỏ, lớp thì đóng Truyện Kiều, lớp thì đóng Chí Phèo;…không bao giờ quên được cơ sở III Thủ Đức nơi có cây hoa sứ trắng làm nền cho các bạn nữ chụp hình; không bao giờ quên được xe trường có chú Kiếm tài xế dễ thương, hiền hậu; không bao giờ quên được dãy nhà A “thần thánh” phát nóng, chảy mồ hôi vì lớp chúng tôi chuyên bị xếp học ở lầu 3;…


Sau 25 năm vào trường và ra trường, lớp chúng tôi khi nghĩ về Khoa, về trường vẫn vẹn nguyên cảm xúc đáng yêu ấy.


TRUNG NIÊN CỦA TÔI CÓ TÊN GỌI: NHÂN VĂN


Ra trường, tôi ở lại làm giảng viên tại Khoa Ngữ văn và Báo chí, sau đổi tên là Khoa Văn học và Ngôn ngữ, và giờ là Khoa Văn học. Ba tên gọi, nhưng cũng chỉ là một phòng họp, một dãy nhà mà hơn 20 năm qua tôi hàng tuần qua lại.


Nhân văn đã cho tôi một sự nghiệp. Nơi tôi học hành, phát triển, định hình nhân cách, định hình hướng nghiên cứu.


Nghĩ về nghề đi dạy, càng ngày tôi càng nhận thấy mình thật may mắn. Vì nghề dạy cho tôi nhiều điều quý giá:


Tôi nghĩ, nghề đi dạy, hơi giống với nghề diễn viên. Nó có một ma lực.


Ma lực đó không phải là ánh đèn sân khấu, quần áo, hóa trang, hay vinh quang, hào nhoáng,... Nghề giáo không có những cái đó. Cái giống nhau, đó là sự hóa thân.


Diễn viên hóa thân thành vai diễn, nhưng sao diễn viên viên A đóng khác diễn viên B? Là vì anh ta vừa là nhân vật, vừa là chính mình.


Người thầy cũng vậy. Mình vừa không phải là mình khi truyền đạt kiến thức. Mình đang thay mặt khoa học, thay mặt chân lý, thay mặt lịch sử. Cho dù tác giả đó, tác phẩm đó, mình yêu hay ghét, thì mình vẫn phải nói đúng sự thật giá trị và vị trí của nó.


Nhưng mình cũng lại vừa là mình khi truyền đạt kiến thức. Vì mình cũng phát ngôn cho quan điểm của chính mình.


Mỗi lần đi dạy là một bài, dù cũng chính nó nhưng mỗi năm phải nói khác, đối tượng nghe mình nói khác, và mình cũng là một "tôi" khác. Vì hôm đó, tôi có tâm trạng khác, thể chất khác, tâm lý khác, độ chững chạc khác, độ trưởng thành khác, kinh nghiệm khác...


Nó còn là nhu cầu chia sẻ.


Diễn viên chia sẻ với khán giả về cảm xúc, cái nhìn của họ về vai diễn. Người thầy chia sẻ với người học về kiến thức, về khoa học, về cuộc sống, về lý tưởng, về nhân sinh, về quan niệm cá nhân...


Người thầy còn được lợi hơn diễn viên ở chỗ, diễn viên không có sự tương tác. Khán giả, nếu đồng cảm, yêu mến, hưng phấn, cùng lắm chỉ có tiếng vỗ tay (hay bỗ bã hơn, thì huýt sáo).


Người thầy, được người học đối thoại, tranh luận, thể hiện lòng yêu mến hay ghét bỏ đối tượng cả hai đang tìm hiểu, và về cả bản thân người thầy.


Phương châm của người thầy lớn luôn là: tôn trọng quyền không đồng ý của người học (respect the right to disagree).


Người học còn được biểu lộ ý tưởng của mình qua sự tương tác và sự đồng sáng tạo, ví dụ như thảo luận, thuyết trình, phát biểu quan điểm,...


Người thầy không chỉ dạy. Họ còn được học. Học được sự tươi mới, sự sáng tạo, sự vô tư, sự sôi nổi, và cả sự khiêu khích, sự bất chấp mà ngày qua ngày, với tuổi tác, người thầy đã đánh mất.


“I know that I know nothing!”(Tôi biết chắc một điều là tôi không biết gì hết!)

Giống như diễn viên đúng trên sân khấu. Người thầy đứng trước lớp là quên hết những ưu tư, muộn phiền.

Giống như diễn viên, người thầy cũng được yêu mến.


Chính Nhân văn đã hun đúc tôi thành một nhà giáo lúc nào cũng đau đáu xem mình đã hoàn thành sứ mệnh của mình chưa; lúc nào khi đứng trên bục giảng cũng run rẩy và hồi hộp, dù đi dạy đã 20 năm, dù trên đầu đã có sợi bạc;…


Tôi nợ Văn Khoa- Tổng hợp- Nhân văn từ khi còn là một đứa trẻ đến giờ. Tôi nợ Văn Khoa một ước mơ, tôi nợ Tổng hợp một tuổi thanh xuân, và tôi nợ Nhân văn trách nhiệm của một trí thức trước những biến thiên của thời cuộc.


TRẦN LÊ HOA TRANH

 

 

 

 

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.